TƯƠNG QUAN GIỮA TU SĨ VÀ GIÁO DÂN

Một vài trích dẫn từ các văn kiện đời tu

Ít là có 3 văn kiện gần đây về đời tu đề cập đến mối tương quan giữa tu sĩ và giáo dân. Mối tương quan này được đặt nền trên sự hiệp thông đoàn sủng. Ơn huệ của Thánh Thần được ban cho vị sáng lập là vì lợi ích của toàn thể Giáo hội. Vì thế, đoàn sủng ấy cũng sẽ được chia sẻ không những với các thành viên của tu hội mà cả với giáo dân nữa. Sự hiệp thông đoàn sủng được diễn tả một cách cụ thể qua việc giáo dân tham gia vào sứ vụ của tu hội, theo một cách thức thích hợp với đặc tính trần thế riêng biệt của giáo dân.
–––––––––––––––––––
Huấn thị: Đời sống huynh đệ trong cộng đoàn (1994)
70. Mối tương quan mới đối với giáo dân
Giáo Hội học của Công Đồng đã chiếu toả ánh sáng vào tính cách bổ túc của những ơn gọi khác nhau trong Giáo Hội mà chúng ta được kêu mời cùng nhau trở nên chứng tá cho Chúa Phục Sinh trong mọi hoàn cảnh và nơi chốn. Sự gặp gỡ và cộng tác giữa các tu sĩ nam nữ và tín hữu giáo dân được coi là một thí dụ về sự hiệp thông trong Giáo Hội, đồng thời củng cố các năng lực tông đồ để Phúc Âm hoá thế giới.
Sự tiếp xúc thích đáng giữa các giá trị là đặc trưng của ơn gọi giáo dân, chẳng hạn như một nhận thức cụ thể hơn về đời sống con người, văn hoá, chính trị, kinh tế, v.v..., và những giá trị là đặc trưng của đời sống tu trì, như việc theo Chúa Ki-tô cách triệt để, chiều kích chiêm niệm và cánh chung của đời sống theo Ki-tô giáo, v.v... có thể biến thành sự trao đổi các ân điển một cách hữu ích giữa người tín hữu giáo dân và các cộng đoàn tu trì.
Sự cộng tác và trao đổi các ân điển trở nên chặt chẽ hơn, khi do ơn gọi và theo cách thức riêng, các nhóm giáo dân chia sẻ đoàn sủng và sứ vụ của hội dòng tại trung tâm của cùng một gia đình thiêng liêng. Theo cách này, có thể thiết lập những mối tương quan hữu ích, dựa trên những liên hệ đồng trách nhiệm chín chắn, và được hỗ trợ bởi những chương trình được hoạch định thường xuyên để huấn luyện về linh đạo của hội dòng.
Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, cần phải có : những cộng đoàn tu trì với căn tính đoàn sủng rõ rệt, khi đã được tiếp tục và được sống, có khả năng chuyển trao và sẵn sàng chia sẻ cho người khác ; những cộng đoàn có một nền linh đạo mạnh mẽ và nhiệt tình truyền giáo để thông truyền cùng một tinh thần và cùng một lực đẩy để Phúc Âm hoá ; những cộng đoàn tu trì biết cách cổ vũ và khích lệ người giáo dân chia sẻ đoàn sủng của hội dòng, theo đặc tính trần thế của họ và theo lối sống khác biệt của họ, mời gọi họ khám phá những phương thức mới để thực thi cùng một đoàn sủng và cùng một sứ vụ. Như vậy, một cộng đoàn tu trì trở thành trung tâm chiếu toả, một sức mạnh thiêng liêng, một trung tâm của nhiệt tình, của tình huynh đệ phát sinh tình huynh đệ, và của sự hiệp thông và cộng tác trong Giáo Hội, nơi đó những đóng góp khác nhau của mỗi người giúp xây dựng Thân Thể Đức Ki-tô, tức là Giáo Hội.
Dĩ nhiên, sự cộng tác chặt chẽ phải được thực hiện với lòng kính trọng ơn gọi của nhau, và những lối sống khác biệt phù hợp với người tu trì và phù hợp với người giáo dân.
Một cộng đoàn tu trì có những nhu cầu riêng của mình về hứng khởi, thời biểu, kỷ luật và sự cách biệt, nên không thể chấp nhận được những hình thức cộng tác bao hàm việc đồng cư và sống chung giữa tu sĩ và giáo dân, kể cả khi những sắp xếp như thế có định rõ những điều kiện cần phải được tôn trọng.
Nếu không, một cộng đoàn tu trì sẽ đánh mất đặc điểm riêng của mình mà cộng đoàn có trách nhiệm phải duy trì bằng cách tuân giữ đời sống chung.

Tông huấn: Đời sống Thánh hiến (1992)
Hiệp thông và cộng tác với các giáo dân
54. Vào những năm gần đây, đạo lý về Giáo hội là hiệp thông đã giúp hiểu rõ hơn rằng các thành phần khác nhau trong giáo hội có thể và phải hiệp lực, trong tinh thần cộng tác và trao đổi các ân huệ, để tham gia hữu hiêu hơn vào sứ mạng Giáo hội. Chúng ta sẽ có một hình ảnh đúng đắn và đầy đủ hơn về Giáo Hội, và nhất là chúng ta sẽ vững mạnh hơn để giải đáp những thách đố lớn của thời đại chúng ta, nhờ sự góp phần hài hoà của các ân huệ khác nhau.
Đới với các dòng đan tu và chiêm niệm, mối quan hệ với các giáo dân chủ yếu nằm ở bình diện thiêng liêng, còn đối với các tu hội dấn thân vào việc tông đồ thì mối quan hệ ấy được diễn tả qua sự hợp tác mục vụ. Những thành viên các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ duy trì những quan hệ với các tín hữu khác, trong những hình thức thông thường của cuộc sống hằng ngày. Ngày nay, nhiều tu hội, thường là do những hoàn cảnh mới, xác tín rằng đoàn sủng của họ có thể được chia sẻ với giáo dân; do đó, các giáo dân được mời gọi tham dự nhiều hơn vào linh đạo và sứ mạng của chính tu hội. ta có thể nói rằng, dựa trên kinh nghiệm lịch sử tựa như kinh nghiệm của các dòng ba hoặc huynh đoàn giáo dân khác nhau, một chương mới, đầy hy vọng, đang được mở ra về những tương giữa những người tận hiến và giáo dân.

Huấn thị Xuất phát lại từ Đức Kitô (2002)
22) Hiệp thông với giáo dân
31. Kinh nghiệm hiệp thông giữa các người thánh hiến dẫn đến một sự hiệp thông mở rộng hơn với mọi thành phần khác của Giáo hội. Lệnh truyền yêu thương người khác, được sống bên trong khuôn viên cộng đoàn, đòi buộc phải chuyển từ bình diện cá nhân đến bình diện những thực tại khác nhau trong Giáo Hội. Chỉ trong một khoa Giáo hội học hội nhập, nơi mà nhiều ơn gọi khác nhau tập trung lại như một đoàn dân của Thiên Chúa, mà ơn gọi đời sống thánh hiến có thể tìm thấy căn tính riêng của mình như là một dấu chỉ và chứng tá. Ngày nay người ta càng càng càng khám phá lại rằng đoàn sủng của các Đấng sáng lập nam cũng như nữ, được nảy sinh bởi Thánh Khí vì lợi ích của mọi người, một lần nữa phải được đặt ở trung tâm của Giáo Hội, hướng mở đến sự hiệp thông và sự tham dự của toàn dân Thiên Chúa.
Trong chiều hướng đó, chúng ta có thể thấy rằng một kiểu thức mới của hiệp thông và cộng tác giữa các ơn gọi và những bậc sống khác nhau, đặc biệt là giữa những người thánh hiến và giáo dân đang khởi đầu.[1] Các hội dòng đan tu và chiêm ngưỡng có thể trao ban cho người giáo dân một mối tương quan chủ yếu thiêng liêng và một không gian cần thiết cho việc thinh lặng và cầu nguyện. Các tu hội dấn thân trong việc tông đồ có thể giúp họ tham gia vào các hình thức cộng tác mục vụ. Các thành viên của các tu hội đời, giáo dân hoặc giáo sĩ, liên kết với những tín hữu ở bình diện của cuộc sống hằng ngày.[2]
Hiện tượng mới mẻ được kinh nghiệm trong những ngày này đó là một số giáo dân xin được tham dự vào đoàn sủng của các tu hội. Điều này làm nảy sinh những bước khởi đầu đáng quan tâm và những hình thức tổ chức các hiệp hội mới. Chúng ta đang kinh nghiệm một sự nở rộ lại những cơ chế cũ, chẳng hạn Dòng Ba hay Dòng Tại thế và sự sinh ra những hiệp hội giáo dân và những phong trào mới nối kết với những gia đình tu sĩ và những tu hội đời. Nếu đôi khi trong thời gian gần đây, có sự cộng tác dưới hình thức thay thế vì con số những người thánh hiến cần thiết để điều hành các hoạt động sút giảm, giờ đây đang gia tăng nhu cầu chia sẻ trách nhiệm, không chỉ trong việc chu toàn các công việc của tu hội, nhưng nhất là trong khát vọng chia sẻ những khía cạnh và những thời gian đặc biệt của linh đạo và sứ mệnh của tu hội. Vì thế ta cần đến một sự huấn luyện tương xứng cho cả những người thánh hiến lẫn giáo dân để bảo đảm một sự cộng tác làm phong phú lẫn cho nhau.
Nếu trong quá khứ, việc thành lập, bồi dưỡng về mặt thiêng liêng và điều hành các nhóm giáo dân thường là nhiệm vụ của các tu sĩ, ngày nay, nhờ việc huấn luyện giáo dân ngày càng gia tăng, có thể có một sự tương trợ lẫn nhau nhằm cổ võ một sự hiểu biết về đặc điểm riêng và vẻ đẹp của mỗi bậc sống. Sự hiệp thông và tương trợ trong Giáo hội không bao giờ chỉ là một chiều. Trong bầu khí mới này của hiệp thông giáo hội, các linh mục, tu sĩ và giáo dân, thay vì không biết gì lẫn nhau hoặc đến với nhau chỉ vì một hoạt động chung, lại một lần nữa có thể tìm lại mối tương quan đúng đắn của tình hiệp thông và một kinh nghiệm đổi mới về tình huynh đệ tin mừng và về sự quý trọng hỗ tương các đoàn sủng trong một sự bổ túc đầy lòng kính trọng đối với các khác biệt.
Năng động giáo hội này sẽ giúp ích cho việc canh tân và xác định căn tính của đời sống thánh hiến. Khi sự hiểu biết về đoàn sủng được đào sâu, người ta luôn khám phá ra những cách thức thực hiện mới mẻ.


[1] x. Tình huynh đệ Công đoàn, 70.
[2] x. TH. Đời sống Thánh hiến, 54.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

LINH ĐẠO GIÁO DÂN

MỘT LINH ĐAO CHO GIÁO DÂN

Đức Thánh Cha kêu gọi giáo dân lãnh trách nhiệm trong Giáo Hội