VAI TRÒ CHỨNG NHÂN CỦA KITÔ HỮU
Tóm tắt nội dung buổi toạ đàm "Ơn gọi và sứ mạng người giáo dân theo Công đồng Vatican II" tại TTMV Sài Gòn ngày 29.09.2012.
_______________________Gioan B. Vũ Thạch Vịnh, OP.
Người giáo dân đã có mặt ngay từ buổi đầu của lịch sử Kitô giáo và ngày càng đóng góp một cách thiết thực và to lớn hơn vào bản chất truyền giáo của Giáo hội. Nhằm đánh giá đúng hơn về tầm mức và vai trò của người giáo dân, đặc biệt là dưới ánh sáng của Công đồng Vatican II, nhân kỷ niệm 50 năm khai mạc Công đồng, diễn đàn về ơn gọi và sứ mạng của người giáo dân được tổ chức tại Trung Tâm Mục Vụ Sài Gòn đã phần nào đáp ứng được nguyện vọng trên và cho thấy rõ hơn vai trò làm chứng của người tín hữu ở một nước Xã hội chủ nghĩa.
1. Vài suy nghĩ về giáo dân
Mở đầu diễn đàn, GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp đã cho thấy một vài suy nghĩ của ngài về người giáo dân nói chung và người giáo dân Việt Nam nói riêng.
Suốt hơn hai ngàn năm qua, các Kitô hữu đã thể hiện niềm tin qua nhiều cách thế khác nhau tùy theo bối cảnh văn hóa, kinh tế, chính trị khác nhau. Qua đó, thể hiện mối tương quan giữa Giáo hội, thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô với các tổ chức xã hội trần thế.
Trong một mức độ nào đó, từ thế kỷ XVI đến đầu thế kỷ XX, mô hình “Giáo hội kim tự tháp” và “Giáo hội – xã hội hoàn hảo” chiếm vị trí ưu tiên trong Giáo hội học. Giáo hội như một tổ chức đích thực với đầy đủ quyền tự quyết và tự trị như bất kỳ xã hội dân sự nào khác. Điều này đã khiến xu hướng thần học đi theo sự phân chia giai cấp trong Giáo hội. Giáo hội đương nhiên với 2 giai cấp phân biệt: giáo sĩ và giáo dân. Cũng chính vì thế, mà quyền bính và địa vị dành cho hàng giáo phẩm, Giáo hội bị giản lược thành một thứ “giáo phẩm luận” (Yves Congar), còn vai trò của người giáo dân hoàn toàn bị quên lãng.
Vào cuối thập niên 30 của thế kỷ XX, bắt đầu xuất hiện quan niệm Giáo hội học mới, khái niệm “dân Thiên Chúa”, với sự đóng góp đáng kể của các thần học gia Đa Minh như Yves Congar, M. D. Koster...
Vatican II được xem là bước chuyển biến quan trọng. Hiến chế “Lumen Gentium” đã trình bày Giáo hội như một cộng đoàn Dân Thiên Chúa, có Đức Kitô làm thủ lãnh. Chiều hướng thần học mới đặt nổi tính bình đẳng về phẩm giá và ơn gọi căn bản của tất cả Kitô hữu trong thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô. Những khác biệt về chức vụ thực sự chỉ có ý nghĩa trong viễn tượng phục vụ cộng đoàn Dân Thiên Chúa. Tính trần thế của người giáo hữu được đặc biệt đề cao và nhấn mạnh. Người tín hữu dấn thân vào các lĩnh vực trần thế với mọi người và như mọi người.
Từ đó, mối tương quan giữa giáo dân và giáo sĩ được đặt lại và tính trần thế của người giáo dân được đặc biệt đề cao. Giáo dân giúp Giáo hội hiện diện và hoạt động trong tất cả những nơi và tất cả những hoàn cảnh mà Giáo hội chỉ có thể trở thành muối trần gian nhờ sự trung gian của giáo dân.
Đối với người giáo dân Việt Nam, trong mấy chục năm qua, giáo dân đã bắt đầu thực hiện sứ vụ ngôn sứ, tư tế, vương giả của mình bằng nhiều cách thế dưới nhiều hình dạng khác nhau như điều khiển việc cử hành Lời Chúa, làm thừa tác viên trao Mình Thánh Chúa, chứng hôn, tuyên úy trong bệnh viện, nhà tù, dạy giáo lý, v.v..
Mối tương quan giữa giáo sĩ và giáo dân vẫn còn là một trở ngại lớn, đặc biệt, vì lòng yêu mến thánh chức linh mục của người tín hữu Việt Nam đã làm không ít giáo sĩ trở thành một thứ quan quyền, tách biệt với mọi người. Não trạng này còn ăn sâu nơi các giáo sĩ miền Bắc và miền Trung. Trên thực tế, nghi lễ trao ban thừa tác vụ linh mục thường được gọi là lễ phong chức, với đầy đủ lễ nghi chúc mừng, chiêu đãi, ăn khao. Có nơi còn rước tân chức như rước quan trạng về làng. Tại một số nơi, song thân của các linh mục được gọi là ông bà cố, và anh chị em của linh mục cũng được thăng quan tiến chức lên họ nhà quan (quan chú, quan bác, quan cô).
2. Giáo huấn của công đồng Vatican II
Tiếp sau bài của GM Phaolô Nguyễn Thái Hợp, OP, là bài chia sẻ của Lm. Giuse Nguyễn Trọng Viễn, OP.
Trước hết, thuyết trình viên khái quát về lịch sử người giáo dân từ trong Kinh thánh, trong giáo hội sơ khai đến các thời kỳ như trung đại, cận đại, hiện đại. Với những nét thăng trầm của vai trò người giáo dân, đặc biệt là với các biến cố cải cách Luther, Cách mạng Pháp 1789... nhằm thức tỉnh Giáo hội đánh giá và coi lại vai trò của người giáo dân.
Tác giả cũng trích dẫn lại phần lớn các văn kiện của công đồng Vatican II về các chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả của người giáo dân. Với sự canh tân là trở về nguồn, tìm lại ý nghĩa ban đầu nơi tính cách trần thế của người giáo dân, Công đồng Vatican II đã cho thấy một giá trị mới xuất hiện trong tâm thức của Giáo hội: giá trị trần thế. Cuộc sống trần thế không còn là một điều gì đi song song và bên ngoài vận hành của niềm tin. Chính thái độ trân trọng cuộc sống trần thế đưa người tín hữu Kitô trở lại cuộc hiện sinh đầy tràn ý nghĩa trong hành trình tìm kiếm Nước Trời.
Tính cách trần thế không chỉ đòi hỏi người giáo dân sống giữa trần gian vì sinh kế hay vì nghĩa vụ trần thế nào đó, mà còn là sứ vụ của Giáo hội. Người giáo dân sống đức tin là xử lý lịch sử đời mình dưới ánh sáng đức tin. Tính cách trần thế ấy là con đường nên thánh.
Bên cạnh đó, tầm quan trọng của các lễ nghi phụng tự và đời sống phải là mối liên hệ biểu tượng với thực tại. Phụng vụ phải trở nên cô đọng cho những ý nghĩa đời thường. Nếu không, các biểu tượng phụng vụ chỉ là các biểu tượng rỗng, không mang một ý nghĩa thiết thực nào cả.
3. Người giáo dân trưởng thành
Bài phát biểu của anh Giêrônimô Nguyễn Văn Nội nhắm đến hai câu hỏi chính: Thế nào là người giáo dân trưởng thành? Và Làm thế nào để người giáo dân trưởng thành?
Bằng việc trưng dẫn nội dung của Sắc lệnh truyền giáo, chương III, số 21 của Công đồng Vatican II, thuyết trình viên đã nêu lên phẩm chất và đặc điểm của người giáo dân trưởng thành như sau:
+ Là người ấy có khả năng và thực sự đã làm cho Giáo hội được thiết lập trên một mảnh đất, trong một cộng đồng dân tộc.
+ Là người ấy có khả năng và thực sự đã làm cho Giáo hội sống đầy đủ ơn gọi, sứ mạng, trách nhiệm của mình trong một cộng đồng xã hội.
+ Là người ấy có khả năng và thực sự đã làm cho Giáo hội trở thành dấu chỉ tuyệt hảo của Đức Kitô giữa loài người.
+ Là người ấy có khả năng cùng làm việc với hàng giáo phẩm trong tư thế là những người đồng trách nhiệm chứ không phải chỉ là cộng sự viên.
Từ đó, anh gợi ý 6 phương thế giúp cho người giáo dân trở nên đích thực hay trưởng thành:
+ Đào tạo, bồi dưỡng cơ bản và chuyên sâu về Giáo lý, Giáo luật, Thánh Kinh, thần học, linh đạo, lịch sử Giáo hội... cho người giáo dân.
+ Giao trách nhiệm và giúp giáo dân đảm đương công việc thuộc trách nhiệm của họ.
+ Thay đổi não trạng xem thường giáo dân nơi hàng giáo sĩ, thay đổi thái độ tự ti, mặc cảm của người giáo dân.
+ Thiết lập, thay đổi, cải tiến cơ chế nơi các giáo hội địa phương.
+ Xây dựng mối tương quan trưởng thành và hợp tác với hàng giáo phẩm và giáo sĩ.
+ Tạo bối cảnh xã hội chính trị cởi mở, tự do, tôn trọng quyền con người và mọi công dân được bình đẳng trước pháp luật, không bị phân biệt đối xử, không kỳ thị tôn giáo.
4. Ơn gọi dấn thân và nên thánh của người giáo dân giữa trần thế
Đây là chủ đề bài phát biểu của bác sĩ Giuse Nguyễn Đăng Phấn. Thuyết trình viên tập trung vào văn kiện chính là Sắc lệnh Tông đồ Giáo dân và Hiến chế Ánh sáng muôn dân và Giáo hội trong thế giới ngày nay để đưa ra tiêu chuẩn của người giáo dân “hai không hai có”: không có chức thánh, không đi tu; và có nên một với Đức Kitô qua phép Thánh Tẩy, có được chia sẻ chức vụ tư tế, ngôn sứ, vương giả của Đức Kitô, từ đó, xác định: Giáo dân có sứ mạng Phúc Âm hóa trần gian, sắp xếp trần gian theo thánh ý Chúa, xây dựng Nước Chúa ngay từ trần gian, mang ơn cứu độ toàn diện cho con người ngay giữa trần gian.
Bác sĩ cũng đưa ra các loại hình giáo dân mà trên thực tế ít khi chúng ta để ý nhận ra điều đó: có giáo dân đi làm ở đời, có giáo dân làm việc trong xứ đạo, nơi tòa giám mục, ở trung tâm mục vụ; có giáo dân chờ mệnh lệnh của hàng giáo phẩm, có giáo dân cái gì cũng hỏi rồi mới dám làm, có giáo dân khoanh tay đứng bên lề, có giáo dân chỉ trích tứ bề, có giáo dân ly dị với cuộc sống đạo...
Bằng cách mời các chứng nhân phát biểu, bác sĩ cho thấy người giáo dân Việt Nam cũng đang dấn thân rất tích cực vào các công việc trần thế để Phúc Âm hóa dân tộc, đặc biệt là trong các lĩnh vực công tác xã hội, từ thiện, nhà mở, mái ấm...
Tuy nhiên, còn một lĩnh vực mà người giáo dân Việt Nam chưa dấn thân đó là lĩnh vực chính trị. Theo bác sĩ, đối với người giáo dân, việc tham gia chính trị là một hành động thích đáng. Người giáo dân làm chính trị phải lên tiếng tố cáo tội ác, bất công của xã hội. Người giáo dân phải quan tâm đến cả thực tại chính trị và bác ái xã hội.
Nhận xét
Đăng nhận xét